Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 9: Tết cổ truyền (Phần 1)

Chúng tôi đã mong đến Tết từ nhiều tuần trước. Nó là một ngày lễ không chỉ cho mọi học sinh Trung Quốc, mà cả cho người lớn nữa. Ngay cả Cha cũng sẽ nghỉ tận ba ngày liền để ăn mừng. Lần đầu tiên kể từ khi chúng tôi đến Thiên Tân, một người thợ may đã đến nhà chúng tôi để đo quần áo mới. Ở Trung Quốc, mặc quần áo mới vào ngày Tết được xem là một điềm lành.

Hôm trước Tết, Cha và Niang gọi chúng tôi xuống ‘Thiên đường của Thiên đường’ và cho chúng tôi quần áo mới. Ba anh trai tôi thất vọng vô cùng khi nhận được ba bộ áo dài Trung Quốc rộng thùng thình giống y hệt nhau đan bằng len xanh đậm, với cổ áo và khuy vải truyền thống. Chị Cả được đưa cho một bộ xường xám bằng lụa. Tôi nhận được một chiếc áo sơmi nâu làm bằng vải thừa lại từ bộ quần áo của Chị Cả. Dù vậy, Em Tư được một bộ âu phục kiểu cách với cổ tròn (gốc: Peter Pan collar) đi với cà vạt và dây nịt cùng màu, còn Em Út được một bộ váy hồng dệt kim thời trang đính nơ và ruy băng.

Năm đứa con kế chúng tôi lê bước lên cầu thang trong sự chán ghét. Các anh tôi quẳng những chiếc áo choàng lên giường một cách khinh bỉ. Họ đều đã mong nhận được những bộ âu phục, áo sơmi và cà vạt. Đó là những gì bạn cùng lớp họ đều đang mặc ở St. John’s.

“Thật vớ vẩn!” Anh Cả tuyên bố, ném bộ quần áo mới của mình lên không trung và đá nó ra xa. “Ai cần những thứ rác tưởi như thế này? Họ nghĩ chúng ta vẫn sống ở đời nhà Thanh à! Làm như chưa tồi tệ đủ khi bị gọi là ba nhà tu hành! Nếu mọi người thấy chúng ta mặc những bộ đồ cổ lỗ sĩ này, thôi quên chuyện đi học cùng nhau luôn đi!”

“Ngày hôm kia,” Anh Ba chua chát bảo, “bàn cùng bàn của anh hỏi anh khi nào anh mới bắt đầu nuôi tóc đuôi sam và cạo lông mày. ‘Mày đang tính làm vua Phổ Nghi và ở trong Tử Cấm Thành à!’ nó nói với anh như vậy.”

“Cái làm chị bực mình là,” Chị Cả nói, “là sự phân biệt rành rành giữa con của bà ta và tụi mình. Chị sẽ chẳng để ý đâu nếu cả bảy chúng ta đều được đối xử một cách công bằng. Nếu họ thật sự để ý đến quần áo truyền thống, thì tất cả bảy người con đều nên ăn mặc như vậy, không chỉ năm đứa mình.”

“Ngoài quần áo,” Anh Hai cắt ngang, “còn chuyện cạo trọc đầu thì sao? Anh có thấy Em Tư đội kiểu đầu Thầy Tu Đặc Biệt này đâu! Tại sao ư, chàng hoàng tử nhỏ bé đã được đưa đến tiệm cắt tóc sành điệu nhất dành cho trẻ con ở Nanjing Lu. Khi nó đứng cạnh chúng ta, nhìn cứ như chúng ta cách xa tận 2 thế kỉ vậy!”

“Tại đây cha muốn dạy cho chúng ta về giá trị đồng tiền,” Anh Cả nói thêm, “vậy mà con riêng của họ có thể gọi bất cứ món gì chúng nó muốn từ bếp lúc nào cũng được. Chúng ta chỉ được phép ăn đúng ba bữa một ngày với cháo và rau củ đông lạnh vào mỗi bữa sáng, nhưng anh thấy Đầu Bếp chuẩn bị thịt hun khói, trứng và bánh mì nướng, quả mọng và dưa tươi cho bữa sáng của chúng nó. Chủ Nhật tuần trước, anh vào bếp và bảo Đầu Bếp rằng anh muốn một miếng thịt hun khói. Tên ngốc đấy còn không cho anh một câu trả lời thẳng thắn. ‘Tôi làm việc theo mệnh lệnh,’ hắn ta nói. ‘Thịt xông khói chỉ được phục vụ ở tầng một.’ Một ngày nào đó, anh sẽ thụi nắm đấm vào miệng hắn!”

“Mọi thứ thật sự đang trở nên quá sức chịu đựng!” Chị Cả phàn nàn, hạ giọng xuống và ra hiệu cho tôi đóng cửa. Tôi vâng lời, sốt sắng vì được tham gia. “Dù vậy chúng ta nên cẩn thận. Niang có gián điệp trong nhà. Bà trông trẻ vừa được thuê cho hai đứa con của bà ấy, bà Chien ấy, bà ấy làm chị cảm thấy sợ. Bà ấy rất nịnh nọt và khúm núm, luôn cười tươi và cúi chào. Hôm qua, bà ta dồn chị vào một góc và mời chị đến buổi trà chiều với Em Tư và Em Út ở nhà trẻ của chúng nó. Chị chưa bao giờ nhìn thấy nhiều đồ ăn như thế—bánh sandwich mini, bánh mì nướng vàng, bánh kem hạt dẻ, xúc xích cuộn. Ở đây, chúng ta bị hạn chế bữa sáng, trưa, tối và đói ngấu giữa những bữa ăn, trong khi các em kế thì đang ném thức ăn thừa ra ngoài ban công cho Jackie ở trong vườn. Thật không công bằng! Dù sao thì, Chien suốt ngày hỏi chị về Ye Ye, Dì Baba, tất cả các em và chị nghĩ gì về Niang. Tất nhiên là chị chẳng nói gì cả. nhưng chị chắc rằng bất cứ điều gì chị nói sẽ được nói lại cho Niang.”

“Anh ghê tởm mụ Chien thối rữa và lừa lọc đó.” Anh Cả thú nhận, “Ngày hôm kia, Cha gọi ba anh em xuống Thiên đường của Thiên đường. Bài giảng lớn đây! ‘Bà Chien nói rằng một đứa đã chơi với chiếc vòi bốn nước trên cầu thang. Đã bao nhiêu lần cha bảo không được uống nước từ cái bồn đó? Từ giờ cái bồn đó bị cấm, nghe rõ chưa? Nếu muốn uống nước thì lấy từ phích nước nóng trong bếp mà uống. Nếu không làm như vậy thì mọi người sẽ có thói quen bật vòi lúc tạm thời chưa có nước. Lát nữa, khi nước đã được lọc sẽ có một vũng nước to trên cầu thang. Mẹ các con không chịu nổi nữa rồi!’ Nên tụi anh phủ nhận chuyện chạm vào vòi nước. Cha có tin tụi anh không? Tất nhiên là không! Anh bảo Cha rằng chính anh đã thấy Chien nghịch quanh cái vòi đó sáng nay. Kết quả cuối cùng là gì? Cha chọn tin bà ta và bọn anh bị đánh bằng roi da! Đồ dối trá! Anh ghét mụ ta!”

“Điều này không thể tiếp diễn được nữa,” Chị Cả tuyên bố. “Hãy lập lại trật tự ở đây! Nếu chúng ta trở nên đoàn kết và phản kháng lại, họ sẽ không phớt lờ chúng ta được nữa. Tuyệt thực thì sao? Như vậy chắc chắn sẽ lấy được sự chú ý của họ! Sẵn sàng để tham gia chưa, Wu Mei?”

Tôi cảm thấy phấn khích vì Chị Cả đã gọi tên tôi. “Tất nhiên rồi!” Tôi la lên một cách hăng hái. “Nhưng em không nghĩ tuyệt thực là cách tốt nhất. Họ còn mừng nếu chúng ta không ăn nữa. Đỡ tốn năm miệng ăn, thế thôi. Để kế hoạch tuyệt thực này thành công, họ phải thật sự quan tâm đến việc chúng ta sống hay chết.”

“Đây là một cuộc cách mạng!” Anh Hai la lớn. “Đây hoàn toàn là một cuộc chiến! Chúng ta sẽ đi đến bếp, mở tủ lạnh, ăn bất cứ thứ gì chúng ta muốn và đối mặt với hậu quả. Họ làm được gì? Đồ ăn đã ở trong bụng chúng ta rồi. Không dễ để lấy nó ra lại đâu.”

“Em lúc nào cũng hấp tấp và nhẹ dạ!” Anh Cả chỉ trích. “Như tên tướng cẩu thả Trương Phi thời Tam Quốc vậy. Chúng ta cần tế nhị và kiên nhẫn hơn. Tài ngoại giao và sự lẩn tránh luôn luôn cần thiết đối với những lần đối chất. Hãy xin gặp riêng Cha và chỉ ra những sự bất bình đẳng một cách bình tĩnh và khoa học.”

“Không có tác dụng gì đâu!” Anh Ba khuyên. “Cha sẽ không bao giờ ngồi vào bàn khi thiếu Niang. Hay chúng ta viết một lá thư nặc danh bằng tiếng Hoa rồi gửi cho Cha  qua đường bưu điện? Niang không đọc được tiếng Hoa. Chị Cả có thể viết lá thư bằng bút và mực. Chữ chị cực kì đẹp và giống nét chữ người lớn!”

“Ý kiến tuyệt vời đấy!” Chị Cả nói. “Hãy soạn lá thư ngay bây giờ đi!” Chúng tôi ngồi khom xuống quanh bàn học và thì thầm những gợi ý cho bức thư, trở nên ngày càng phấn khích hơn với hành động mạo hiểm này. Anh Ba quyết định anh ấy sẽ vào phòng tắm và thả lỏng bản thân trong khi lá thư đang được viết. Anh giật mạnh cánh cửa, bước ra ngoài và, chạm đến tận cùng của sự hoảng sợ, suýt nữa va vào Niang, người đang đứng ngay bên cạnh cửa, tai dán ngay bên cạnh.

 

 

 

 

Advertisements
Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 8: Vé xe điện

Dù Cha đã cho chúng tôi học ở những ngôi trường đắt tiền, ông và Niang đều áp dụng chính sách ‘thắt lưng buộc bụng’ để dạy cho chúng tôi về ‘giá trị đồng tiền’. Để bắt đầu, chúng tôi không bao giờ được cho tiền tiêu vặt, kể cả phí tàu điện. Chúng tôi chẳng có gì để mặc ngoài đồng phục. Chị Cả và tôi phải luôn để tóc ngắn và thẳng. Còn với ba anh trai, mọi thứ còn tệ hơn nữa. Họ đều phải cạo trọc như những nhà tu và bị trêu chọc bởi bạn bè mỗi ngày.

Trường tôi cách nhà một dặm rưỡi và nằm ngay cạnh trường Chị Cả. Tàu điện số 8 chạy thẳng qua từng nhà. Học Viện St John’s cách xa tận 3 dặm mà vẫn có thể đến được bằng tàu điện số 8 đi về hướng ngược lại.

Khi Ye Ye mới đến Thượng Hải, chúng tôi đã xin ông cho tiền để đi tàu điện đến trường. Hai tháng sau, Ye Ye đã tiêu hết tiền của mình và quyết định nói với mọi người vào một buổi tối nọ. Bữa tối sắp kết thúc và mọi người đang ăn trái cây khi Dì Baba nói rằng Dì đã quyết định nhận việc làm giao dịch viên ở ngân hàng của Dì Lớn. (Dì Lớn là người em ruột cực kì thành công của Ye Ye. Vài năm trước, bà đã thành lập nên Ngân hàng Phụ nữ Thượng Hải và trở nên giày có.) Đây có thể là cách Dì Baba nói với Cha rằng Dì và Ye Ye đã không còn tiền cho chi tiêu hàng ngày. Chúng tôi đều nín thở cho họ.

Cha và Niang trông cực kì khó chịu. ‘Chị không cần phải làm việc như một đứa thường dân,’ Cha nói. ‘Chị có mọi thứ chị cần ở đây rồi cơ mà. Vả lại, Ye Ye thích chị ở nhà. Nếu một trong hai người cần tiền, tại sao không hỏi em? Em đã bảo trước đây rằng nếu em bận việc ở văn phòng, chị chỉ cần nói với Jeanne (Niang) đây rồi cô ấy sẽ đưa tiền cho chị.’

Sao điều này có thể xảy ra được? Tôi tự hỏi. Tiền của Ye Ye đâu? Ông không còn là trụ cột của gia đình này nữa sao? Tại sao tự nhiên ông lại trở nên phụ thuộc vào tiền của Cha và Niang? Tôi rùng mình khi nghĩ đến cảnh người ông dịu dàng và đầy phẩm hạnh của tôi xin xỏ tiền tiêu vặt từ bà mẹ kế kiêu căng.

‘Cả hai người đều đã rất hào phóng và thuê nhiều người giúp việc trong nhà nên chị thấy mình không giúp được gì nhiều,’ Dì Baba trả lời một cách lịch sự. ‘Bọn trẻ thì ở trường cả ngày. Đi làm mỗi ngày sẽ giúp chị ra khỏi nhà và làm một điều gì đó có ích.’

Cha quay sang Ye Ye. ‘Cha nghĩ sao? Cha sẽ không nhớ chị ấy sao?’

‘Hãy để chị con đi làm nếu đó là điều chị thật sự yêu thích,’ Ye Ye trả lời. ‘Chị con thích dành tiền lương để đánh bài mạt chược và mua quà cho bọn trẻ. Nhân tiện, cha đã phải nói với con điều này từ nhiều tuần trước. Bọn trẻ con nên được cho tiền tiêu vặt hàng tuần.’

‘Để làm gì?’ Cha hỏi, quay về phía chúng tôi. ‘Chẳng phải mọi thứ đều đã được chu cấp cho chúng nó rồi sao?’

‘À, còn một thứ,’ Chị Cả trả lời, thay mặt cho tất cả chúng tôi, ‘chúng con cần tiền đi xe điện mỗi ngày để đến trường.’

‘Tiền đi xe điện à?’ Niang đột ngột xen vào. ‘Ai bảo đi xe điện là tốt? Sao không đi bộ? Tập thể dục rất tốt cho sức khoẻ mà.’

‘Chúng con phải đi rất xa mới đến được St John’s. Đến lúc mình đến được đó, đã đến giờ để quay lại và đi về nhà,’ Anh Lớn nói.

‘Vô lý!’ Cha lớn giọng. ‘Đi bộ là rất tốt cho trẻ em ở độ tuổi phát triển như chúng con.’

‘Con ghét đi bộ!’ Anh Lớn cằn nhằn. ‘Đặc biệt là vào buổi sáng.’

‘Sao mày dám cãi lại cha!’ Niang đe doạ. ‘Nếu cha bảo mày đi bộ đến trường, nhiệm vụ của mày là nghe lời cha. Rõ chưa?’

Chúng tôi trở nên im lặng và nhìn sang Ye Ye, mong đợi ông nói gì đó để bảo vệ chúng tôi; nhưng ông dán chặt mắt vào đĩa và tiếp tục gọt táo. Chị Cả không thể chịu được nữa. ‘Ye Ye đã đưa tiền tiêu vặt cho chúng con. Bây giờ chúng con đã quen với việc đi tàu điện đến trường rồi. Không ai trong lớp con còn đi bộ đến trường nữa. Hầu hết bạn cùng lớp của con đều đến lớp bằng xe hơi riêng.’

Niang trở nên tức giận. ‘Cha chúng mày làm việc vất vả để chu cấp cho mọi người trong nhà này,’ bà ta gầm lên giận dữ, liếc mắt nhìn Ye Ye và Dì Baba. ‘Thật lén lút làm sao khi bọn mày lấy tiền từ Ye Ye mà không nói cho cha biết! Chúng tao gửi bọn mày vào học trường đắt tiền để bọn mày được nuôi dạy và lớn lên một cách đúng đắn. Không ai muốn chúng mày bị lừa để trở thành những đứa vô công rỗi nghề cả. từ giờ, tất cả bọn mày sẽ bị cấm xin tiền Ye Ye hay Dì Baba đằng sau lưng chúng tao. Nghe rõ chưa?’

Dù những lời mắng nhiếc của bà ta dành cho chúng tôi, rõ ràng chúng cũng được dành cho Ye Ye và Dì Baba nữa. Bà ta ngừng lại một chút rồi tiếp tục, ‘Tao không nói rằng bọn bay sẽ không bao giờ được đi tàu điện lần nữa. Chúng tao chỉ muốn mày hiểu được lỗi lầm của mình trong quá khứ. Hãy thừa nhận lỗi sai của mình đi. Hứa rằng mình sẽ thay đổi để tốt hơn. Rồi hãy đến xin lỗi chúng tao. Nói với chúng tao rằng từ bây giờ mày sẽ thay đổi cách hành xử của mình. Chúng tao sẽ cho mày tiền tàu điện nếu mày thật sự ăn năn hối lỗi.’

Căn phòng trở nên cực kì im lặng. Tiếng động duy nhất tôi có thể nghe được là tiếng nhai táo của Ye Ye. Chắc chắn ông sẽ nói gì lại với Niang! Những người hầu đi vòng quanh bàn ăn với khăn ẩm để chúng tôi lau miệng. Rồi Niang tiếp tục nói, lần này với Ye Ye, bằng một giọng ngọt ngào và một nụ cười, ‘Quýt ngon và nhiều nước lắm. Đây, cha ăn đi! Để con bóc cho cha.’

Lúc đầu, tất cả chúng tôi đều tức giận! Câu chuyện về vé tàu điện này rõ ràng đã được liên kết với sự thiết lập của thứ tự thứ bậc mới trong nhà. Giờ khi Nai Nai đã qua đời, Niang sẽ lên nắm quyền ư? Chúng tôi đã bao nhau rằng mình sẽ luôn trung thành với Ye Ye. Nếu cần thiết, chúng tôi sẽ đi bộ đến trường cùng nhau (ít nhất là đến khi tốt nghiệp) để bày tỏ sự trung thành với ông.

Mười ngày sau, tôi nhìn thấy Chị Cả xuống tàu điện ở trạm xe gần nhà. Dù chị ta phớt lờ tôi và tôi không dám nói, chị ta rõ ràng đã đầu hàng.

Ba anh trai tôi phải chịu đựng từ tuần này sang tuần khác. Trường St Johns quá xa nhà! Thời tiết lúc ấy còn trở nên lạnh lẽo. Các anh phải dậy từ lúc trời còn chưa hửng sáng và trở về nhà, mệt mỏi rã rời. Lần lượt từng người đều đầu hàng sau đó.

Mặc dù Ye Ye và Dì Baba cố thuyết phục tôi xuống nhà và cầu xin tiền vé xe điện, tôi không thể làm được. Tại sao ư? Tôi còn không hiểu rõ bản thân mình nữa. Nhưng tôi biết nó là thứ gì đó có liên quan đến sự trung thành, công bằng và nghĩa vụ. Tôi chưa từng chia sẻ về vấn đề này với bất cứ ai, kể cả Dì Baba. Đơn giản chỉ là tôi không thể ép bản thân để đến trước mặt Niang và thừa nhận rằng bản thân mình (và vì thế nên Ye Ye) đã phạm sai lầm trong quá khứ. Hơn nữa, phản bội ông chẳng có vẻ gì là một việc làm đúng cả, đặc biệt vì tôi là người đã xin tiền ông từ lúc bắt đầu.

Khi những cơn mưa nặng hạt trút xuống, và các cơn gió rít qua hàng phố, tôi nghiến chặt răng lại và bắt đầu chuyến hành trình dường như vô tận dọ theo Đại Lộ Joffre. Đến cổng trường, ướt sũng vì mưa, tôi cố gắng không để ý những đứa bạn cùng lớp bước ra từ tốn từ xích lô, xe ba bánh và xe nhà riêng. Tôi biết một vài đứa đã cười nhạo mình từ đằng sau lưng và thì thầm với nhau rằng tôi đã bắt chuyến Xe Điện Riêng Số 11 đến trường mỗi ngày, nghĩa là đôi chân đã mang tôi đến trường.

Vào những chiều Chủ Nhật, Niang thường gọi anh chị tôi xuống nhà vào phòng ngủ của bà ta (nơi mà Anh Ba đã đặt tên là ‘Thiên đường của thiên đường’) và đưa cho họ tiền vé xe điện. Khi nghe thấy điều đó và biết rằng mình đã bị gạt đi, tôi cảm giác như mình đã bị đâm một nhát đau điếng. Đôi khi Chị Cả còn lên lầu trở lại và khoe mẽ bằng cách rải những đồng xu thành một hàng và đếm tiền trước mặt tôi, từng cái một.

Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 7: Đoàn tụ gia đình

Anh Cả nói với tôi rằng Ye Ye, Dì Baba, Anh Ba và Em Út sẽ đến Thượng Hải vào ngày Chủ Nhật cuối cùng của tháng Mười. Tôi bắt đầu đếm từng ngày. Em Út đã bị chia cách với mẹ em ấy, Niang, từ lúc em chỉ mới sáu tháng tuổi. Giờ thì em ấy đã gần hai tuổi và Dì Baba có nói trong thư rằng em ấy đã bắt đầu nói tiếng Hoa bằng giọng địa phương Thiên Tân rồi. Thật dễ thương!

Sáng hôm mọi người đến, Cha và tài xế sẽ gặp họ ở ga xe lửa. Tôi thật vui sướng khi được gặp lại Dì Baba yêu mến và Ye Ye. Anh Ba có vẻ cao và gầy hơn nhưng Em Út mới là người thay đổi nhiều nhất. Dì Baba đã cho em ấy mặc chiếc quần lụa màu hồng với áo khoác và giày vải cùng màu. Tóc em được chải gọn gàng thành hai bím xinh xinh, đong đưa qua lại theo từng bước đi. Nhìn em ấy như một con búp bê vậy, với đôi mắt to tròn và cặp má hồng phúng phính, chạy vòng quanh phòng khách, “kiểm tra” những bát kẹo, hạt dưa, đậu phộng, gừng lát và mận muối trên bàn, và rồi chạy vào vòng tay của Dì Baba. Tất cả chúng tôi ra dấu hiệu để giành lấy sự chú ý của em ấy trong khi cô nàng thì lại chọc ghẹo mọi người bằng cách đi nửa đường rồi quay ngược lại sà vào lòng Dì Baba.

Niang nhiều lần ra lệnh cho con mình để đến với bà ấy. Nhưng đối với Em Út, mẹ em ấy là một người hoàn toàn xa lạ và con bé phớt lờ đi. Niang mặc một chiếc váy lụa nâu đen được nhập từ Pháp, với đôi bông tai ngọc trai treo lủng lẳng trên tai và chuỗi hạt xoàn lớn trên cổ. Mặc dù đứng xa năm mét mà tôi vẫn có thể ngửi được mùi nước hoa đến là nồng nặc của bà ấy.

Để giúp, Dì Baba bóc một viên kẹo và vẫy vẫy nó. Em Út chạy về phía Dì Baba một cách hăm hở. Dì Baba đưa viên kẹo cho Niang, người đang vẫy đi vẫy lại, cố gắng dụ dỗ con gái đến với mình. Từ chối của “hối lộ” và trở nên cáu kỉnh, con bé chạy lại đĩa kẹo và đổ tất cả kẹo ra thảm.

Trở nên cực kì mất kiên nhẫn, Niang lại gần Em Út trong khi bò trên đất để nhặt kẹo. ‘Đồ hư đốn!’ Em Tư, năm nay mới tròn bốn tuổi, mắng nhiếc em gái mình.

‘Em không nên làm như vậy!’ Chị Cả thêm vào với thái độ nghiêm nghị, cố gắng nịnh bợ Niang. Những người còn lại đều giữ im lặng.

‘Không muốn bà!’ Em Út nói thẳng vào mặt Niang. ‘Không thích bà. Bà đi chỗ khác đi!’

Ngạc nhiên và đau đớn, Niang cúi xuống và bế con mình, người mà đang quằn quại và giẫy giụa hết sức mình. Một bầu không khí im lặng khác thường bao trùm cả căn phòng. Tất cả mọi cặp mắt đều dán lên cảnh tượng bà mẹ và đứa con của mình giằng co. Em Út đang gào khóc thảm thiết trong khi những giọt nước mắt lăn dài xuống hai gò má bé nhỏ của con bé. ‘Không muốn bà!’ Em ấy lặp lại. ‘Dì Baba! Dì Baba! Nói bà ấy đi chỗ khác đi! Đi đi!

Không ai dám nói nửa lời trong lúc Niang bế đứa con đang gào khóc của mình để đặt con bé trên ghế bành cạnh bà ấy. Em Út đẩy cổ và mặt, giờ đang dần chuyển thành màu đỏ và trở nên méo xệch vì giận dữ, của mẹ con bé đi. ‘Ngồi im!‘ Niang thét lên một cách vô ích, lần này đến lần khác bằng một giọng the thé. Trong cơn nóng giận (gốc: tác giả dùng một từ tiếng Pháp mêlée), dây chuyền của Niang đã bị đứt và những hạt ngọc quý giá rơi xuống thảm và lăn ra tấm ván gỗ.

Điều này chứng tỏ quá nhiều thứ với Niang. Cực kì nóng giận, bà ta cho đứa con chưa tròn hai tuổi của mình một cái tát đau điếng. Em Út chỉ khóc to hơn thôi. Một cách có chủ đích và đầy thô bạo, Niang bắt đầu đánh con gái mình. Những cú đánh của bà ta giáng xuống bất kể chỗ nào, từ tai, má, cổ và đầu con bé. Mọi người đều co rúm lại trong khi sự trừng phạt ấy tiếp tục diễn ra. Người lớn tránh ánh mắt của nhau còn trẻ con thì co mình lại trên ghế.

Tôi không thể hiểu được tại sao Cha, Ye Ye và Dì Baba không hề cố gắng để ngăn Niang lại. Tại sao không ai lại phản đối? Tôi muốn chạy đi nhưng không dám. Tôi biết tôi nên giữ im lặng nhưng những suy nghĩ trong đầu làm cổ họng tôi nghẹn lại và tôi cảm thấy rằng mình bắt buộc phải nói tất cả ra. Cuối cùng, không thể chịu được nữa. Run rẩy vì sợ hãi, tôi thốt lên, ‘Đừng đánh con bé nữa. Nó chỉ là một đứa trẻ thôi mà!’

Câu nói của tôi dường như đã dừng Niang khỏi cơn điên cuồng của mình. Tiếng hét của Em Út cũng đã nhỏ lại, giờ đây chỉ còn là những tiếng thút thít. Niang trừng mắt lên nhìn tôi. Đôi mắt to, lồi của bà ấy tưởng chừng như sẽ bật ra khỏi hốc mắt với sự giận dữ. ‘Sao mày dám!’ Bà ta thét lên. Trong một vài giây, tôi đã rất sợ rằng bà ta sẽ đánh tôi. Ở bên kia căn phòng, Dì Baba cho tôi một ánh nhìn cảnh cáo với cái lắc đầu nhẹ ám chỉ rằng không được nói gì thêm nữa.

Trong những khoảnh khắc ngắn ngủi đó, chúng tôi đã hiểu ra mọi thứ. Không chỉ riêng về Niang, mà còn về tất cả người lớn nói chung. Giờ đây khi Nai Nai đã mất, không còn bất cứ mối nghi ngờ nào về người nắm giữ quyền lực trong nhà nữa.

Trong cơn cuồng nộ, Niang từ từ đưa tay phải lên và chỉ ngón tay trỏ về phía tôi. Tôi cảm thấy hoảng sợ và chỉ nhìn thấy bộ móng tay dài, được cắt tỉa và sơn màu đỏ hoàn hảo, chĩa về phía mình. Rồi tôi nghe bà ta nói, giọng chất đầy sự ác ý, làm tôi dựng hết tóc gáy. ‘Cút ra!’ Bà ta gầm gừ bằng một giọng lạnh lẽo, đanh thép. ‘Tao sẽ không bao giờ tha thứ cho mày! Không bao giờ! Không bao giờ! Không bao giờ! Mày nên cẩn thận từ bây giờ đi! Rồi mày sẽ trả giá cho sự kiêu ngạo của mày!’

Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 6: Ngày đầu tiên đến trường

Sáng thứ Hai, vì Dì Baba vẫn còn ở Thiên Tân, người hầu đã giúp tôi mặc bộ đồng phục mới tinh. Nó hơi dài, cứng đơ vì bột, màu trắng và có tên trường mới của tôi, Trái Tim Thiêng Liêng (gốc: Sacred Heart/ Sheng Xin), thêu bằng chỉ đỏ trên ngực áo trái.

Sau bữa ăn sáng, tôi đứng ở hành lang để đợi người đưa đến trường, tự hỏi bản thân rằng người đó sẽ là ai. Tôi rất háo hức để bắt đầu lớp Một ở trường tiểu học mới của mình. Trường tôi được đặt cạnh trường Chị Cả, Trường Trung học Aurora. Mặc dù vậy, Chị Cả vẫn con đang ngủ vùi trong giường. Các lớp học của chị ấy bắt đầu một tiếng sau tôi. Bác tài xế đã rời khỏi nhà để chở các anh tôi đến Học Viện St John’s ở hướng ngược lại với hướng của tôi.

Tôi nhìn thấy Đầu Bếp đang đạp xe qua dãy hành lang để đi chợ. Bác ấy phát hiện ra tôi và hỏi, ‘Ai sẽ đưa cháu đến trường?’

‘Cháu không biết.’ Tôi đã rất lo lắng và không thể không liếc mắt về phía chiếc đồng hồ lớn đang kêu tích tắc trên tường. Lúc ấy đã gần trễ giờ và mọi người đã quên bẵng tôi. Tôi nên làm gì bây giờ? Tôi trở nên hoảng sợ và cảm nhận được những giọt nước mắt đang bắt đầu rơi trên hai gò má.

Bác Đầu Bếp nhún vai. ‘Đó nhất định không phải việc của tôi. Không ai nhắc gì với tôi về cháu cả.’ Bác ấy đã chuẩn bị lái xe đi tiếp khi bác trông thấy hàng nước mắt của tôi. ‘Nào nào! Đừng khóc nữa! Muộn học chả phải là tận thế đâu…thôi được rồi! Đi với bác nào!’ bác vừa lầm bầm vừa nhấc tôi lên ghi đông của chiếc xe đạp. ‘Trường Tiểu học Sheng Xin của cháu hoá ra nằm ngay cạnh chợ. Chúng ta sẽ đến đó nhanh thôi.’

Sau khi giờ học kết thúc vào buổi chiều, tôi đứng đợi với tất cả những bạn cùng khối ở cổng trường. Từng người một đều được chào đón, ôm hôn và dẫn đi bởi các bà mẹ đầy lo lắng. Tôi là người duy nhất còn ở lại. Không ai đã đến đón tôi. Cánh cổng sắt từ từ đóng lại đằng sau tôi trong lúc tôi nhìn các bạn mình ra về, nắm chặt tay mẹ mình và kể lại những chuyện đã xảy ra trong ngày một cách đầy hào hứng. Sau một thời gian dài, tôi nhìn qua một vết nứt vào một sân chơi bị bỏ hoang. Tôi không nhìn thấy bất cứ ai cả. Tôi đẩy cảnh cửa sắt to lớn một cách cẩn thận. Nó đã được khoá chặt. Run rẩy vì sợ hãi, tôi nhận ra rằng không ai sẽ đến đón tôi cả. Quá xấu hổ để thu hút sự chú ý về phía mình, tôi bước ra ngoài đường phố Thượng Hải. Chắc chắn rằng, nếu tôi cố gắng đủ, tôi sẽ nhớ đường về nhà mà thôi.

Đó là một buổi chiều đầy nắng. Lúc đầu tôi đi lang thang dọc theo một con đường rộng, thẳng với những hàng cây to, rậm lá. Ô tô, xe điện, xích lô, xe đẩy và xe đạp tấp nập qua lại. Tôi tiếp tục đi nhưng không dám sang đường, khẽ liếc nhìn những cửa hiệu được trang hoàng với các biển hiệu song ngữ đầy màu sắc. Tôi rẽ vào một góc đường và bây giờ vỉa hè được bị lấp đầy với người và tiếng ồn: những người cu li vác hàng tạ cột tre trên vai; người bán hàng rong đang bán đồ chơi, những con dế trong lồng, quạt, trà đá, kẹo, bánh bao nhân thịt, chả giò, trứng bắc thảo và đậu phụ lên men; các quầy quán và cửa hàng cung cấp dịch vụ như cắt tóc, cạo râu, chăm sóc răng miệng, viết thư, ráy tai; người ăn mày đập gõ vào những chiếc cốc thiếc để xin của bố thí từ mọi người. Trừ tôi, mọi người đều đang hối hả vì một mục đích nào đó, đi đâu đó. Mọi người đều có một đích đến. Có lẽ tôi đã đi bộ hàng cây số. Nhưng tôi đang ở đâu?

Tôi có nên vào một cửa hàng và hỏi đường không? Nhưng tôi không biết địa chỉ nhà mình. Tôi nên nói gì bây giờ? Tôi có nên hỏi người chủ cửa hàng tốt bụng và nói với bác ấy, ‘Làm ơn đi ạ, cháu muốn về nhà.’ Nhưng, nhà tôi ở đâu?

Trời tối dần. Những biển hiệu neon xanh, đỏ, tím, vàng bắt đầu lên đèn và làm chói mắt tôi. Mọi người ở nhà có ai nhớ tôi không? Họ có nghĩ rằng tôi vẫn đang ở trường không? Họ có đang tìm tôi không? Tôi nên làm gì bây giờ?

Tôi đi ngang qua một cửa hàng dim sum nhộn nhịp. Thật là một bầu không khí tuyệt vời lướt ra từ cửa! Qua tấm kính trong suốt, tôi thấy hàng dĩa vịt quay vàng rượm, gà chiên, và các khúc thịt lợn nướng to tướng treo trên móc. Người đầu bếp trẻ bên trong đang khéo léo dùng dao cắt con vịt ra thành các miếng vừa ăn trên một tấm gỗ lớn. Chẳng phải sẽ thật tuyệt để được cho một miếng thịt sao? Nhưng có vẻ đó là một điều ước quá tầm với. Tôi sẽ cảm thấy toại nguyện chỉ với một miếng xương để nhai thôi. Vừa nuốt nước bọt, tôi vừa tưởng tượng nên mùi vị của thức ăn trong cổ họng. Dường như đã lâu lắm rồi kể từ khi tôi được ăn sáng!

Một ai đó chạm vào vai tôi. Tôi giật nảy mình và ngước lên nhìn. Một khuôn mặt to lớn màu đỏ gay của người phụ nữ mà tôi vừa thấy đang chạy việc trong nhà hàng đang nói chuyện với tôi. ‘Cháu đã đứng đây gần nửa tiếng rồi. Mẹ cháu đang làm gì mà lại để cháu đợi ở đây một mình thế này? Bà ấy không biết rằng rất nguy hiểm để cho một cô bé bằng tuổi cháu ở ngoài đường như thế này à? Cháu định ăn tối với gia đình ở đây sao?’

Cảm thấy sợ hãi, tôi cúi gắm mặt xuống và lê bàn chân mình. ‘Vào trong và đợi bà ấy đi,’ bà ra lệnh cho tôi sau khi liếc nhìn bộ đồng phục mới của tôi. ‘Con gái bác hôm nay cũng mới bắt đầu đi học.’

Bên trong thật nóng và ồn ào. Tôi đứng một cách dè dặt bên cửa. Đột nhiên, chiếc điện thoại màu đen bên cạnh quầy tính tiền lọt vào mắt tôi! Mới hôm qua, Anh Cả vừa dạy tôi một trò chơi mà anh ấy vừa bày ra. ‘Lấy một số bất kì và cộng, trừ, nhân hoặc chia nó. Người nào được số mười ba trước thì thắng!’

‘Mình nên dùng số nào hả anh?’ Tôi hỏi.

‘Chạy xuống nhà và lấy số điện thoại nhà cho anh,’ Anh nói. ‘Ghi ở trước mặt điện thoại trên cầu thang ấy.’

Tôi vội vã chạy xuống để lấy số và chúng tôi chơi với nó suốt cả buổi chiều: hết trước lại đến sau, hết chia ra lại tăng lên. 79281! Chính là nó! 79281!

Cuối cùng, Anh Cả đã thắng! Anh ấy đã chia 79281 thành 9, 8, 21 và 7:

9 – 8 = 1

21 ÷ 7 = 3

Anh ấy đặt số 3 cạnh số 1 và được số 13, và chiến thắng bằng cách ấy. Tôi vỗ tay tán thường trong sự hoan hỉ và ngưỡng mộ. Tôi cảm thấy thật vinh dự vì Anh Cả đã chơi với tôi cả buổi chiều.

Không ai đang nhìn khi tôi nhấc điện thoại lên và quay số. Cha trả lời sau hồi chuông thứ ba.

‘Nói to lên!’ Cha hét lên. ‘Đang ồn lắm. Ai đây?’

‘Con gái cha, Wu Mei.’

‘Con đang ở đâu?’ Cha hỏi với một giọng đều đều, khá bình tĩnh; và đột nhiên, tôi nhận ra rằng không ai nhớ đến tôi cả. Họ còn chẳng biết tôi không ở nhà.

‘Con đang ở trong một nhà hàng. Con bị lạc khi cố đi bộ về nhà từ trường.’

‘Để cha nói với chủ cửa hàng. Ở ngay đó đi rồi cha sẽ đến đón con.’

Ngay sau đó, Cha đến và chở tôi về nhà trên chiếc xe Buick màu đen của ông. Đường xá khá thông thoáng và cha lái xe đi trong im lặng. Khi đến nơi, ông vỗ nhẹ vào đầu tôi. ‘Lần sau con đi bất cứ đâu,’ ông khiển trách và đứa tôi một tấm bản đồ Thượng Hải từ ngăn đựng găng tay trong xe ông, ‘đọc tấm bản đồ này và tìm ra chỗ của con và nơi con muốn đến. Bằng cách này con sẽ không bao giờ đi lạc nữa.’

Đó chính xác là những gì tôi sẽ làm, tôi tự nghĩ. Sau khi ăn tối xong tôi sẽ hỏi Anh Cả cách đọc tấm bản đồ. Vì Dì Baba vẫn còn đang ở Thiên Tân, rõ ràng không có ai ở đây buồn chăm sóc tôi cả. Tôi sẽ phải tự tìm đường cho bản thân thôi.

Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 5: Đến Thượng Hải

Sáu tuần sau đám tang Nai Nai, Ye Ye mang Chị Cả, Anh Cả, Anh Hai và tôi đi dã ngoại. Chúng tôi rất ngạc nhiên khi xe đột nhiên dừng trước ga xe lửa. Sau khi dặn dò người lái xe phải đợi trong xe ở ngoài, Ye Ye dắt bốn chúng tôi vào sân ga đông nghẹt, được gắn dòng chữ ‘Đến Shanghai’. Ở đó, trong khoang hạng nhất, chúng tôi ngồi đối diện Cha, đang ngồi một mình. Cha mặc vét và thắt cà vạt màu đen. Hai mắt Cha đỏ hoe, ông đã ngồi khóc được một lúc.

Chúng tôi rất vui mừng và ngạc nhiên. Chị Cả hỏi, ‘Cha trở về được bao lâu rồi?’ Cha bảo ông vừa đến nơi vài tiếng trước nhưng đang chuẩn bị rời đi gần như ngay lập tức. Cha bảo Cha nhớ chúng tôi và đã đến Thiên Tân để hộ tống chúng tôi về Thượng Hải. Ông bảo chúng tôi rằng Thượng Hải là thành phố cảng lớn cách xa một ngàn dặm và Bà Dì sở hữu một ngân hàng lớn ở đó. Cha, Niang và Em Tư đã sống ở đấy được một năm rưỡi. Vì Anh Ba vẫn chưa khỏi bệnh sởi, anh ấy sẽ đến sau cùng với Em Út, Ye Ye và Dì Baba. Là những Phật Tử chân chính, Ye Ye và Dì Baba muốn hoàn thành nghi thức để tang một trăm ngày cho Nai Nai trước khi rời Thiên Tân.

‘Còn quần áo chúng con thì sao?’ Anh Cả hỏi.

‘Dì Baba sẽ sắp xếp để chúng được đưa đến nơi tách biệt,’ Cha trả lời. ‘Nếu chúng ta mang nhiều hành lý quá, những người hầu trong nhà sẽ trở nên nghi hoặc. Người hầu không được biết nơi ở của chúng ta. Nếu không, bọn Nhật sẽ bắt ta. Trên tàu, hãy nói chuyện với nhau càng ít càng tốt. Giờ thì chào tạm biệt Ye Ye đi! Tàu sẽ đi trong vòng năm phút nữa!’

Nhà của Cha ở Thượng Hải nằm ở Đại lộ Joffre, ở giữa trung tâm của khu Pháp Thuộc (gốc: the French Concession). Nó là một toà nhà bằng bê tông màu xám sẫm to lớn, hình vuông, giống hệt như sáu mươi chín ngôi nhà khác trong cùng một ‘long tang’, cụm các ngôi nhà bao quanh bởi bức tường công xã. Tài xế của cha chở chúng tôi từ ga tàu thông qua làn đường chính của ‘long tang’, rẽ trái vào một con hẻm hẹp hơn, và dừng lại trước một chiếc cổng sắt được chạm trổ tinh xảo. Cha dẫn chúng tôi vào mộ khu vườn tuyệt đẹp, với một bãi cổ được tỉa tót ngay ngắn bởi những bụi cây hoa trà, cây mộc loan với những đoá hoa tươi thắm thi nhau bung nở ngát hương thơm, và một giếng nước kế bên một chiếc nhà gỗ dành cho thú cưng. Một chú chó bec-giê Đức hung dữ chạy ra, nhảy lên một cách háo hức khi nhìn thấy Cha, nhưng lại sủa khi nhìn thấy chúng tôi. Tôi khẽ liếc con vật to lớn, hung bạo ấy và những chiếc răng nhọn hoắt và đôi tai nhọn hoắt của nó. Cha nhận thấy điều đó và nói với tôi, ‘Tên của nó là Jackie. Đừng sợ nó. Cứ cư xử như bình thường thôi. Nó đang học cách nghe lời mỗi tuần từ một người huấn luyện chó chuyên nghiệp. Nó không dám cắn con đâu.’

Mặc dù vậy, tôi vẫn cảm thấy sợ hãi. Tôi đi ra chỗ khác và theo Anh Cả đi lên ba bậc thềm đá qua cánh cửa cao nhổng kiểu pháp vào phòng khách.

‘Chúng ta ở đây cả rồi!’ Cha nói, nhìn mọi thứ xung quanh đầy tự hào lúc chúng tôi há hốc mồm khi nhìn thấy bộ trường kỷ màu đỏ rượu đi kèm bộ rèm cửa cùng tông bằng nhung và tấm thảm dày cộp bằng len trải lên một phần sàn gỗ làm bằng gỗ tếch. Trên giấy dán tường có các dải nhung dài để đi với bộ rèm cửa. Những cây phong lan được cắm trong chiếc lọ cổ từ thời nhà Minh được đặt trên chiếc bàn uống cà phê được mô phỏng theo thiết kế của vua Louis XVI. Mọi thứ đều hoa mỹ, trang trọng, bóng loáng và cứng nhắc.

Niang bước vào, nắm tay Em Tư. Chúng tôi chào Niang một cách rụt rè. Như căn phòng nơi tôi đang đứng, mẹ kế của chúng tôi cũng sành điệu và hoàn mỹ với đôi mắt to, sắc lẹm, bộ móng tay dài được sơn màu đỏ tươi, và những viên kim cương sáng chói ở cổ, cổ tay và tai. Đứng đối diện bà ấy làm tôi cảm thấy hèn hạ và thua kém.

‘Ngồi xuống, tất cả bọn bay! Và chào mừng đến với nhà của chúng ta ở Thượng Hải!’ Niang thông báo với giọng nói lớn, rõ rạc. ‘Người hầu sẽ chỉ mọi người đến phòng của mình. Ngôi nhà này có ba tầng tất cả. Ở tầng trệt, phòng khác và nhà ăn ở phía trước. Nhà bếp, chỗ để xe và chỗ ở của người hầu ở phía sau. Bọn bay chỉ được đi vào và ra khỏi nhà bằng cửa sau mà thôi. Cánh cửa trước dẫn ra vườn là để dành cho khác của cha bọn mày. Phòng khác cũng vậy. Bọn mày không được dẫn bạn về nhà, hay đi đến nhà ai cả.

‘Tầng một gồm phòng của Cha, tao, em trai và em gái bọn mày. Bọn bay không được phép vào bất cứ căn phòng nào trên lầu này mà không có sự chấp thuận của tao.

‘Tất cả bọn mày sẽ sống trên tầng hai. Ba đứa con trai sẽ ngủ chung phòng. Wu Mei sẽ ở chung với Dì Baba. Ye Ye và con Cả mỗi người sẽ có phòng riêng. Liệu hồn mà giữ phòng mình cho gọn gàng vì cha bọn mày và tao sẽ lên kiểm tra bất cứ lúc nào.

‘Bọn tao đã ghi danh tất cả chúng mày vào những trường tư thục công giáo đắt tiền. Bắt đầu đi học từ thứ Hai. Giờ thì hãy đi với người hầu về phòng và tắm rửa đi. Trong nửa tiếng nữa, Đầu Bếp sẽ rung chuông báo hiệu giờ ăn tối. Ngay khi nghe tiếng chuông đó, tất cả đều phải xuống nhà. Nghe rõ chưa?’

Chúng tôi gật đầu một cách nghiêm trang. Ngay khi chúng tôi leo lên cầu thang, Anh Cả thì thầm, ‘Đối với bà ta, chúng ta không phải là những cá thể riêng biệt. Ở đây, chúng ta phải trở thành một đơn vị duy nhất là tất cả bọn mày. Có vẻ như đây sẽ là cuộc sống của chúng ta từ bây giờ.’

Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adelina Yen Mah; Chương 4: Cuộc sống ở Thiên Tân (Phần 2)

Cha tôi cực kì lo lắng và bắt đầu rụng tóc. Một số thương gia người Nhật tìm đến nhà để gặp Cha, kể cả vào những ngày Chủ Nhật. Họ đến với những người vệ sĩ Nhật luôn đeo khẩu trang và mang theo các lưỡi lê với những đầu dao sắc nhọn. Nó thật sự phiền toái khi chúng tôi luôn phải cúi chào và thể hiện sự kính cẩn với bất cứ ai trông giống người Nhật. Sau khi họ rời khỏi nhà, Cha đã nói chuyện với Ye Ye hàng tiếng đồng hồ trong phòng làm việc.

Một buổi sáng nọ, Cha rời khỏi nhà để mua tem ở bưu điện gần nhà. Rồi Cha không trở về nhà nữa. Ye Ye đã báo với cảnh sát về sự biến mất của Cha. Ông treo áp phích khắp mọi nơi và đăng quảng cáo trên báo treo thưởng cho bất cứ ai biết được nơi ở hiện tại của Cha, liệu Cha còn sống hay đã chết. Bọn người Nhật quay trở lại một vài lần để tìm kiếm Cha nhưng đã sớm mất hứng thú. Vì Cha không ở đó, việc kinh doanh của ông đã bị trì trệ và dừng lại hẳn. Tiền bạc không còn được làm ra và bọn Nhật cũng dần rút lại lời đề nghị của chúng.

Một vài tháng sau, mẹ kế Niang mang Em Út đi và rời khỏi nhà. Không ai biết họ đã đi đâu. Mọi chuyện thật sự rất đáng sợ và bí ẩn.

Ye Ye bảo chúng tôi rằng Cha, Niang và Em Út đã đi được một thời gian. Sau khi tất cả những sự kì lạ và nghi hoặc vây bọc gia đình tôi biến mất, chúng tôi không còn bận tâm đến việc đó nữa vì thường ngày Cha luôn đi công tác. Bên cạnh đó, Ye Ye, Nai Nai và Dì Baba vẫn còn ở nhà. Bọn người Nhật đã ngừng làm phiền chúng tôi. Cuộc sống dần ổn định hơn, thậm chí còn hạnh phúc hơn trước.

Ye Ye đã thuê bảy người hầu, một đầu bếp, một người tài xế và bác Ah Mao, người kéo xích lô. Người lớn trong nhà thường mở tiệc chơi đánh bài mạt chược. Bọn trẻ con chúng tôi có thể mời bạn đến nhà chơi. Vào những ngày Chủ Nhật, Ye Ye dẫn mọi người ra ngoài đi chơi bằng xe hơi của Cha. Chúng tôi đã ăn trưa ở nhiều nhà hàng ở quanh khu tôi ở – nhà hàng Pháp, Nga, Đức, Ý và Nhật. Đôi khi, chúng tôi thậm chí còn được xem phim cho trẻ em! Cuộc sống dường như hạnh phúc hơn bao giờ hết.

Cha, Niang và Em Út đã đi được hơn một năm và tôi đã gần như quên họ hẳn. Trời lúc ấy đang nóng hừng hực và cả nhà chúng tôi đang ở trong phòng khách để bàn thực đơn cho bữa tối ngày hôm sau. Dì Baba đề nghị với Đầu Bếp rằng chúng tôi nên ăn há cảo thay cho cơm để thay đổi. Những chiếc há cảo thơm ngon được nhồi với thịt, hẹ, hành tây và chúng cực kì tuyệt vời! Anh Cả hét lên rằng anh ấy có thể ăn được hết năm mươi cái mỗi lần ngồi ăn. Anh Hai lập tức đáp trả lại rằng mình có thể ăn sáu mươi và Anh Ba cũng muốn sáu mươi cái. Chị Cả gọi bảy mươi cái. Anh Cả bảo chị ta rằng chị đã quá thừa cân rồi. Chị ta hét toáng lên, bảo Anh Cả câm miệng lại ngay và họ bắt đầu cãi nhau.

Nai Nai bảo, ‘Ồn ào quá! (nguyên gốc: What a racket!; mình không thể tìm được cách dịch chính xác nhất vì đây là một câu slang- short language và cũng không được dùng nhiều cho lắm..) Bà đang bị nhức đầu. Đã muộn rồi. Bà sẽ lên phòng để ngâm chân.’ Bà quay sang tôi. ‘Wu Mei! Chạy xuống nhà bếp và bảo họ mang lên phòng bà một chậu nước ấm.’

Tôi nhìn người hầu rót dòng nước nóng từ ấm nước vào chiếc chậu bằng men và theo họ vào phòng ngủ của Nai Nai. Nai Nai đang ngồi bên cạnh giường, từ từ tháo tấm lụa mỏng quấn chân ra. ‘Con có chắc con muốn ở đây không?’ bà hỏi tôi. ‘Chân của bà sẽ làm cả phòng có mùi rất khó chịu ngay khi bà tháo tấm lụa này ra.’

‘Làm ơn hãy để con ở lại!’ Tôi vừa van nài vừa ngồi bệt xuống sàn nhà. Sự thật là tôi cảm thấy rất ngạc nhiên vì bàn chân nhỏ xíu của bà. Nó như một bộ phim kinh dị vậy: bạn muốn và không muốn xem nó cùng một lúc.

Tôi nhìn chằm chằm vào ngón chân của Nai Nai, tất cả đều bị biến dạng và xoắn lại một cách lố bịch bên dưới lòng bàn chân. Từ từ bà nhúng chân vào chậu nước nóng, thở ra nhẹ nhõm và hài lòng. Rồi bà xoa hai bàn chân vào nhau một cách nhẹ nhàng với xà phòng đến khi cả chậu nước toàn bọt xà phòng. Dì Baba bước vào và giúp Nai Nai cắt móng chân và tẩy đi lớp da chết. ‘Con thấy mình may mắn chưa?’ Nai Nai nói với tôi. ‘Vì được sinh ra đúng thời điểm, cả con và Dì Baba đã không phải trải qua những sự hành hạ mà bà đã phải chịu đựng khi bị bó chân. Ôi, bà chỉ ước được một ngày mà chân không đau nhức!’

‘Khi Nai Nai bằng tuổi của con, bà đã không còn có thể chạy nhảy nữa!’ Dì Baba nói với tôi. ‘Và con thì còn được đến trường mỗi ngày như các anh mình. Giờ thì mau đi ngủ đi! Đã quá giờ ngủ của con rổi.’

Sau khi tôi rời đi, Dì Baba nói chuyện với Nai Nai một lúc lâu. Rồi sau đó dì đi tắm.

Mười lăm phút sau, Ye Ye đấm thình thịch vào cửa phòng tắm. Nai Nai đã ngất và sùi bọt mép. Dì Baba gọi điện thoại cho bác sĩ nhưng đã quá muộn. Nai Nai đã qua đời vì một cơn đột quỵ.

Tôi thức dậy từ một giấc ngủ ngon và nhìn thấy Dì Baba ngồi một mình bên bàn trang điểm và đang khóc. Tôi bò vào lòng dì và đưa tay vòng quanh người dì để an ủi. Dỉ Baba bảo tôi rằng cuộc đời của Nai Nai đã tan biến như một chương trong giấc mơ mùa xuân. Ngoài trời, tôi có thể nghe thấy tiếng dế ngân nga trong cái nắng mùa hè và tiếng rao của người bán hàng rong ngoài hè đường. Làm sao mọi thứ lại y như cũ khi Nai Nai đã không còn ở đây với chúng tôi?

Nai Nai được đặt trong một chiếc hòm được buộc kín trong phòng khách. Những nhà tu mặc áo choàng dài tụng niệm kinh. Ye Ye ra lệnh cho chúng tôi ngủ trên sàn nhà đêm nay để Nai Nai không ở một mình. Anh Ba thì thầm với tôi rằng Nai Nai sẽ cậy nắp hòm và lang thang vào lúc nửa đêm. Đến tối, khi lắng nghe tiếng các sư thầy đang niệm kinh và nhìn thấy đầu họ trong ánh đèn cầy lập loè, tôi nửa mong nửa sợ Nai Nai sẽ thật sự bò ra và nằm cạnh chúng tôi.

Ngày hôm sau là đám tang. Quan tài của Nai Nai được bọc bằng vải trắng và đặt trên chiếc xe tăng, được kéo bởi bốn người đàn ông. Tất cả chúng tôi đều mặc áo choàng dài và đeo băng tang cho con trai, ruy băng cho con gái màu trắng. Anh Cả đại diện cho Cha, người không có ở đó. Những người nhạc công chuyên nghiệp ca ngợi đức hạnh của Nai Nai. Họ tung những đồng xu giấy màu trắng lên không trung trong lúc chơi nhạc và hát lên những khúc nhạc cầu nguyện. Xe tang dừng lại sáu lần để Anh Cả quỳ xuống, bày tỏ sự kính trọng và sự đau buồn trước sự qua đời của Nai Nai bằng giọng đọc lớn.

Tại Chùa Phật, các sư tổ chức một buổi lễ trang trọng. Giữa những khúc nhạc và mùi nhang, chúng tôi đốt các tờ báo giấy cho Nai Nai ở thế giới bên kia. Ngoài ra còn có giường làm bằng các-tông, bàn, ghế, ấm, chậu và thậm chí là một bộ bài mạt chược. Các anh tôi đánh nhau vì một chiếc xe lớn bóng loáng bằng thiếc. Tôi nhìn làn khói toả ra từ bình đựng tro hoả táng và tin với cả tấm lòng mình rằng nó sẽ hợp lại đâu đó trên thiên đường thành các đồ dùng gia đình dành riêng để Nai Nai dùng.

Standard
Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah

Chinese Cinderella by Adeline Yen Mah; Chương 4: Cuộc sống ở Thiên Tân (Phần 1)

 Một vài tháng sau, đầu năm 1942. Mùa đông. 

Khi tôi bắt đầu học mẫu giáo tại Trường Tu viện St Joseph của Pháp, Chị Cả đã học ở đó được vài năm và đã vào lớp Năm. Chị ấy phàn nàn về việc phải dắt tôi đến trường và về nhà nhiều đến mức Nai Nai phải thuê Ah Mao, một người kéo xe, để đưa chúng tôi đến trường.

Cha đã mua chiếc xích lô màu đen, bóng loáng ba năm trước cho sinh nhật lần thứ năm mươi của Nai Nai để bà thăm bạn bè và chơi mạt chược. Nó có những chiếc lốp xe cao su có thể bơm đi bơm lại được, được gắn thêm chiếc đèn bằng đồng thau ở mỗi bên xe và một chiếc chuông có thể điều khiển được bằng chân cũng như bằng tay. Mỗi sáng, Ah Mao đều quét sạch chỗ ghế ngồi, lau chùi hai bên thân xe, rửa mái vòm và đánh bóng chiếc đèn. Các anh trai của tôi luôn xin bác ấy để được chở nhau đi trên chiếc xích lô vòng quanh vườn nhà nhưng Ah Mao luôn đuổi họ đi.

Ngoài vườn nhà chúng tôi, một bà cụ ăn xin bị mù và tàn tật thường ngồi trên hè đường. Ngay khi Ah Mao mở cửa, bà ấy sẽ đập chiếc bát thiếc xuống, ngoẹo đầu sang một bên và gào lên, ‘Xin hãy thương hại tôi đi!’ Chị Cả và tôi đều hơi sợ hãi bà ấy. ‘Chạy nhanh hơn đi!’ Chị Cả giục Ah Mao, ‘Tránh xa bà ta càng nhanh càng tốt!’

Tôi luôn cảm thấy hạnh phúc khi chiếc xích lô dừng lại trước toà nhà màu đỏ của trường St Joseph mỗi sáng. Tôi yêu mọi thứ về trường của mình: từ việc tất cả những cô bé khác đều mặc đồng phục trắng phau như tôi; các bà xơ người Pháp luôn mặc áo choàng đen và trắng với những cây thánh giá treo trên cổ họ; học đếm số, giáo lý và bảng chữ cái; đến việc chơi nhảy dây và lò cò vào giờ giải lao. Các bạn ở lớp luôn làm tôi cảm thấy như tôi thuộc về nơi này. Không như anh chị của tôi, không ai ở trường coi thường tôi cả.

Tiếng chuông vang lên báo hiệu giờ ra về. Tôi hối hả ra khỏi lớp và chạy thẳng ra ngoài đến chỗ Ah Mao, người đang hút một điếu thuốc và ngồi xổm giữa tay lái của chiếc xích lô trên lề đường cạnh cổng trường tôi. Bác nở nụ cười khi tôi đến gần và vẫy tôi đến chỗ chiếc xe đang đậu.

‘Không biết hôm nay phải đợi bao lâu đây,’ bác vừa cằn nhằn vừa châm lửa cho điếu thuốc mới.

Tôi chẳng nói gì cả nhưng tôi hiểu ý bác là gì. Nó thật sự khó chịu. Chị Cả luôn là người cuối cùng ra về sau khi giờ học kết thúc. Chị ấy có vẻ thích thú để bạn bè thấy mình luôn có người kéo xích lô và em gái chờ đợi mỗi buổi chiều trong khi chị ấy đỏng đảnh đi khỏi cổng trường.

Hôm nay chúng tôi đã phải đợi lâu hơn bình thường. Trời lạnh thấu xương và có vài cơn gió Tây Bắc thổi qua. Sau một lúc chờ đợi bác Ah Mao sang tán dóc với người bán trà ở góc đường và làm ấm tay mình bên cạnh chiếc ấm pha trà nóng hổi. Mặt, tay và ngón chân của tôi đều tê cứng vì lạnh.

Cuối cùng, tôi thấy Chị Cả xuất hiện ở sân trường, cười đùa với bạn bè trong lớp chị ấy đến khi các xơ đuổi họ đi và khoá cánh cổng lại đằng sau họ. Chị Cả cau mày khi leo lên xe, trong khi tôi co rúm một góc. Chị ta thục mạnh vào chiếc chuông một cách giận dữ vài lần bằng chân. Bác Ah Mao vội vã chạy lại, cầm lấy càng xe và bắt đầu chạy đi.

‘Hôm nay các xơ dạy mày những gì?’ Chị Cả hỏi tôi một cách hống hách.

‘Họ dạy em về Chúa,’ Tôi trả lời đầy tự hào.

‘Vậy để tao kiểm tra thử nhé. Ai tạo ra mày?’

Tôi cảm thấy hạnh phúc vì biết câu trả lời. ‘Chúa tạo ra em.’

‘Tại sao Chúa lại tạo ra mày?’

‘Em không biết vì cô giáo chưa dạy chúng em.’

‘Đó chỉ là cái cớ!’ Chị Cả hét lên. ‘Mày không biết chỉ tại vì mày đần độn thôi! Và mày không xứng đáng để đeo cái này!’ Đột nhiên, chị ta nắm lấy chiếc huy chương của tôi và giật nó ra, nổi điên lên vì tôi đã đẩy chị ta ra. ‘Cầm lấy đi! Kẻ thắng được huy chương! (nguyên gốc: medal-winner)! (chẳng khác gì) Thú cưng của giáo viên! Mày nghĩ mày là ai? Khoe mẽ từ tuần này sang tuần khác!’ Chị ta vừa hét lên vừa tát tôi bằng tay phải.

Bác Ah Mao, người đã dừng lại khi nghe được tiếng tát. Chị Cả vuốt phẳng đồng phục một cách thờ ơ, ra lệnh cho bác chạy nhanh hơn vì chị ta đang đói. Chị ta bảo Ah Mao rằng bác Đầu Bếp sẽ làm há cảo, món ăn xế yêu thích nhất của chị. Ngay khi chúng tôi về đến nhà, chị ta nhảy xuống và chạy đi. Bác Ah Mao giúp tôi bước xuống, chỉ vào chiếc huy chương, nở nụ cười và đưa ngón cái lên với tôi, lắc nắm tay lên và xuống thể hiện sự ngưỡng mộ.

Tôi đã đạt được và đeo chiếc huy chương mỗi tuần. Tôi biết điều này làm anh chị mình không hài lòng, đặc biệt là Chị Cả và Anh Hai, nhưng đây là cách duy nhất để Cha có thể chú ý và trở nên tự hào về tôi. Bên cạnh đó, thầy cô và bạn bè ở trường đều có vẻ hạnh phúc cho tôi. Điều đó càng làm tôi yêu trường thêm.

Cuối cùng cũng là ngày cuối học kì. Cả trường tôi đều được tập hợp lại trong hội trường cho lễ trao giải. Vị Đức Cha người Pháp đã đích thân đến và đang đứng đợi trên sân khấu để trao thưởng cho chúng tôi. Xơ Agnes bất ngờ gọi tên tôi trước mặt mọi người. Xơ tuyên bố rằng tôi sẽ được nhận một giải thưởng đặc biệt vì đã đeo huy chương lâu hơn bất cứ học sinh nào. Tim tôi đập liên hồi khi tôi lên sân khấu, nhưng những bậc thang dẫn lên sân khấu quá cao và dốc để tôi có thể leo lên. Tôi nên làm gì bây giờ? Cuối cùng, tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải trèo từng bước lên sân khấu bằng tay và đầu gối mình. Mọi người ở dưới cười phá lên và vỗ tay nhiệt liệt. Họ có thật sự đang ca ngợi tôi không?

Trong lúc về lại chỗ ngồi, tôi không thể không nhận thấy rằng, trong số tất cả những người đã đoạt giải, tôi là người duy nhất không có người thân đi theo. Không có ai ở đây để xoa đầu hay chúc mừng tôi, kể cả Dì Baba. Còn Chị Cả, chị ấy đã từ chối đến trường ngày hôm ấy. Chị ấy bảo chị bị đau bụng.

Dì Baba bảo tôi rằng Nhật Bản là một đế quốc hùng mạnh mà đã xâm chiếm hầu hết Trung Quốc, kể cả thành phố Thiên Tân mà chúng tôi đang sống lúc bấy giờ. Ba anh trai của tôi luôn càu nhàu về những lớp tiếng Nhật họ phải học ở trường. Trẻ em chúng tôi phải thể hiện sự kính trọng và cúi chào mỗi khi gặp lính Nhật. Nếu không họ sẽ trừng phạt hoặc thậm chí giết chúng tôi. Một lần nọ, bạn thân của Anh Cả đã bị đá và tát bởi một tên lính Nhật vì anh quên cúi chào khi hắn chạy ngang qua. Một lần khác, Ye Ye đã phải ngăn Anh Ba để anh không đá một quả bóng làm bằng những tờ báo cũ bởi trên mặt báo có in một tấm hình của Hoàng đế Nhật. Mọi người đều căm ghét người Nhật, nhưng ngay cả người lớn đều sợ họ. Bây giờ đang có thông tin rằng một số người Nhật đang yêu cầu trở thành đối tác làm ăn với Cha.

Standard